Ngày 12/6/2018, Quốc hội đã thông qua Luật Cạnh tranh số 23/2018/QH 14. Theo đó, Luật này bao gồm 10 Chương, 118 Điều quy định về hành vi hạn chế cạnh tranh, tập trung kinh tế gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh đến thị trường Việt Nam; hành vi cạnh tranh không lành mạnh; tố tụng cạnh tranh; xử lý vi phạm pháp luật về cạnh tranh; quản lý nhà nước về cạnh tranh.
Chính sách của Nhà nước về cạnh tranh là tạo lập, duy trì môi trường cạnh tranh lành mạnh, công bằng, bình đẳng, minh bạch; thúc đẩy cạnh tranh, bảo đảm quyền tự do cạnh tranh trong kinh doanh của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật; tăng cường khả năng tiếp cận thị trường, nâng cao hiệu quả kinh tế, phúc lợi xã hội và bảo vệ quyền lợi người tiêu dung; tạo điều kiện để xã hội, người tiêu dung tham gia quá trình giám sát việc thực hiện pháp luật về cạnh tranh.
Doanh nghiệp có quyền tự do cạnh tranh theo quy định của pháp luật. Nhà nước bảo đảm quyền cạnh tranh hợp pháp trong kinh doanh; hoạt dộng cạnh tranh được thực hiện theo nguyên tắc trung thực, công bằng và lành mạnh, không xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp.
So với Luật Cạnh tranh 2004, Luật Cạnh tranh 2018 có 7 điểm mới, cụ thể như sau:
1. Hành vi bị nghiêm cấm liên quan đến cạnh tranh:
Nghiêm cấm cơ quan nhà nước thực hiện hành vi gây cản trở cạnh tranh trên thị trường như: ép buộc, yêu cầu, khuyến nghị doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, cá nhân phải thực hiện hoặc không thực hiện việc sản xuất, mua, bán hàng hóa, cung ứng, sử dụng dịch vụ cụ thể hoặc mua, bán hàng hóa, cung ứng, sử dụng dịch vụ với doanh nghiệp cụ thể, trừ hàng hóa, dịch vụ thuộc lĩnh vực độc quyền nhà nước hoặc trong trường hợp khẩn cấp theo quy định của pháp luật; phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp; ép buộc, yêu cầu, khuyến nghị các hiệp hội ngành, nghề, tổ chức xã hội - nghề nghiệp khác hoặc các doanh nghiệp liên kết với nhau nhằm hạn chế cạnh tranh trên thị trường; lợi dụng chức vụ, quyền hạn để can thiệp trái pháp luật vào hoạt động cạnh tranh.
Luật Cạnh tranh 2018 còn nghiêm cấm tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin, vận động, kêu gọi, ép buộc hoặc tổ chức để doanh nghiệp thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh, cạnh tranh không lành mạnh.
2. Bãi bỏ ngưỡng giới hạn của hành vi tập trung kinh tế: Tại Điều 30 của Luật Cạnh tranh 2018 quy định cấm doanh nghiệp thực hiện tập trung kinh tế gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể trên thị trường Việt Nam. Trước đây, Luật cạnh tranh 2004 quy định cấm tập trung kinh tế nếu thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế chiếm trên 50% trên thị trường liên quan.
3. Quy định mới thời hạn xử lý vụ việc vi phạm về cạnh tranh
Tại Luật Cạnh tranh 2004 để giải quyết, xử lý vụ việc vi phạm tập trung kinh tế phải trải qua giai đoạn điều tra sơ bộ và điều tra chính thức. Trong đó, điều tra sơ bộ là 30 ngày; điều tra chính thức là 60 ngày với cạnh tranh không lành mạnh; 180 ngày với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, tập trung kinh tế. Luật Cạnh tranh 2018 không còn quy định về hai giai đoạn điều tra nêu trên, mà chỉ quy định: Thời hạn điều tra là 09 tháng đối với vụ việc hạn chế cạnh tranh; 90 ngày với vụ việc tập trung kinh tế; 60 ngày với cạnh tranh không lành mạnh.
4. Căn cứ để xác định ngưỡng thông báo tập trung kinh tế
Trước đây, Luật Cạnh tranh 2004 quy định: Các doanh nghiệp tập trung kinh tế có thị phần kết hợp từ 30% đến 50% trên thị trường liên quan thì phải thông báo cho cơ quan quản lý cạnh tranh trước khi tiến hành tập trung kinh tế.
Điều 33 Luật Cạnh tranh 2018 không quy định cụ thể như trên, mà chỉ quy định ngưỡng thông báo tập trung kinh tế được xác định căn cứ vào 1 trong 4 tiêu chí: tổng tài sản trên thị trường Việt Nam của doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế; tổng doanh thu trên thị trường Việt Nam của doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế; giá trị giao dịch của tập trung kinh tế; thị phần kết hợp trên thị trường liên quan của doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế.
Chính phủ quy định chi tiết Điều này phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ.
5. Ấn định mức xử phạt cụ thể với hành vi phạm về cạnh tranh: Điều 111 phạt tiền đối với hành vi vi phạm pháp luật về cạnh tranh nêu rõ:
Mức phạt tiền tối đa đối với hành vi vi phạm quy định về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền là 10% tổng doanh thu của doanh nghiệp có hành vi vi phạm trên thị trường.
Mức phạt tiền tối đa đối với các hành vi vi phạm quy định về tập trung kinh tế là 05% tổng doanh thu của doanh nghiệp vi phạm trên thị trường liên quan.
Vi phạm quy định về cạnh tranh không lành mạnh: Phạt tối đa 2 tỷ đồng; vi phạm quy định khác: Phạt tối đa 200.000 triệu đồng.
Với cá nhân vi phạm, mức phạt bằng 1/2.
6. Quy định chính sách khoan hồng với doanh nghiệp vi phạm: tại Điều 112 Luật Cạnh tranh 2018 có quy định về chính sách khoan hồng đối với các doanh nghiệp vi phạm quy định về cạnh tranh - điều mà Luật Cạnh tranh 2004 không đề cập tới. Theo đó, doanh nghiệp tự nguyện khai báo giúp Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia phát hiện, điều tra và xử lý hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm sẽ được miễn hoặc giảm mức xử phạt theo chính sách khoan hồng.
Chính sách khoan hồng được áp dụng cho không quá 03 doanh nghiệp đầu tiên nộp đơn xin hưởng khoan hồng đến Ủy ban Cạnh tranh quốc gia. Căn cứ xác định doanh nghiệp được hưởng khoan hồng được quy định như sau: thứ tự khai báo; thời điểm khai báo; mức độ trung thực và giá trị của các thông tin, chứng cứ đã cung cấp.
7. Định danh cụ thể cơ quan thực thi pháp luật về cạnh tranh
Cơ quan thực thi pháp luật về cạnh tranh được giao cho Ủy ban Cạnh tranh quốc gia; trước đây Luật Cạnh tranh 2004 không quy định điều này.
Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia là cơ quan thuộc Bộ Công Thương, gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các thành viên.
Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia có nhiệm vụ tham mưu giúp Bộ trưởng Bộ Công Thương thực hiện chức năng quản lý nhà nước về cạnh tranh; tiến hành tố tụng cạnh tranh; kiểm soát tập trung kinh tế; quyết định việc miễn trừ đối với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm; giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh.
Luật Cạnh tranh 2018 có hiệu lực từ ngày 01/07/2019 thay thế Luật Cạnh tranh 2004.
Lê Thị Diễm Quỳnh